Lịch sử của ngành chế tác đồng hồ thế giới P2

Trong phần 1 chúng ta đã phần nào biết được sự khởi nguyên của ngành chế tác đồng hồ khi mà những chiếc đồng hồ đầu tiên được ra đời đã có thể đo được thời gian một cách thô sơ nhất. Trong phần 2 này hãy cùng CHIC WATCH LUXURY  tìm hiểu về sự phát triển của ngành chế tác đồng hồ này nhé.

THỜI KÌ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 

Khi cuộc cách mạng công nghiệp xảy ra vào nửa cuối thế kỷ 18 mang đến cả cơ hội và thách thức cho ngành công nghiệp đồng hồ. Yếu tố “đúng giờ” thực sự trở nên quan trọng. Lịch trình xe lửa không thể hiểu được nếu thiếu thời gian biểu tiêu chuẩn, và sự thay đổi từ lao động nông nghiệp sang lao động nhà máy đã đưa ra khái niệm về cảm giác thời gian và đồng hồ.

Khi thời gian trở thành một hàng hóa cần được đo lường và tận dụng, các nhà máy đã thúc đẩy công nhân tối đa hóa sản lượng và thi hành kỷ luật thời gian với mức phạt khắc nghiệt cho bất kỳ ai đến muộn. Các nhà máy có định hướng thời gian đã tìm cách tối đa năng suất trong mỗi phút, phong cách quản lý lao động theo nhiệm vụ được thay thế bằng khuôn phép và cơ giới hóa.

Một số nhà máy thậm chí còn làm chậm thời gian để có thể kéo dài một ngày làm việc. Trong bài viết của mình, học giả David Landes nhận thấy rằng những hệ thống kỷ luật thời gian nghiêm ngặt này đã khiến nhiều công nhân coi nhà máy là một loại nhà tù, với chiếc đồng hồ là khóa, trở thành công cụ áp bức công nhân.

 

Những công nhân tại nhà máy IG Farben-Bayer, Leverkusen, Germany, 1928
Những công nhân tại nhà máy IG Farben-Bayer, Leverkusen, Germany, 1928

 

Áp lực phải kỷ luật thời gian có thể được cảm nhận trong toàn xã hội trong những năm 1870 và 1880. Marking Modern Times lập luận rằng mặc dù sở hữu đồng hồ là để khẳng định địa vị xã hội, nhưng tại thời điểm đó thị trường secondhand đã đủ lớn để những người lao động nghèo và tay nghề thấp cũng có thể sở hữu những chiếc đồng hồ. Điều này cũng làm tăng sự phổ biến của đồng hồ.

Thay vì chủ yếu được nhìn thấy trên các tháp nhà thờ, ở thời điểm đó, đồng hồ bắt đầu xuất hiện ở những không gian công cộng, trang trí các nhà ga và hội trường nhà máy. Ngày càng nhiều người sở hữu đồng hồ bỏ túi hoặc trên cổ tay của họ. Nhu cầu này cũng thúc đẩy sự phát triển của các thợ chế tác đồng hồ lành nghề bậc thầy.

Dần trở thành thị hiếu đại chúng, chế tác đồng hồ phát triển hơn với sự cấp tiến của công nghệ. Trong thế kỷ 18 và 19, nhiều công ty lớn được thành lập và ngày càng có một vị trí cố định trong ngành đồng hồ. Phải kể đến những phát minh đột phá của Abraham-Louis Breguet với dây tóc Breguet 1975 và toubillon 1801, một trong những cột mốc huyền thoại trong sự nghiệp của Breguet cũng như đặt nền móng cho những thiết kế mỏng hơn và sớm đeo được trên cánh tay.

Cũng có một số phát kiến trong thời kỳ này như Deadbeat escapement vào năm 1715, hay còn gọi là bộ thoát nhịp chết nhằm khắc phục hiện tượng giật ngược của bánh răng bên trong con hồi để nó chạy mượt mà hơn và tránh sai số, do đó mang lại độ chính xác cao. Bộ thoát lever, mặc dù được phát minh vào năm 1759 nhưng được cải thiện vào năm 1785, chủ yếu được sử dụng ở Anh khi các nhà chế tác đồng hồ Thụy Sĩ đang ưa chuộng các bộ thoát khí (cyliner escapement) cho đến cuối những năm 1800.

Chế tạo đồng hồ sau đó dần chuyển từ các xưởng nhỏ đến các xưởng sản xuất lớn hơn.

THỜI ĐẠI SẢN XUẤT HÀNG LOẠT

Các nhà sản xuất đồng hồ châu Âu trong nhiều thế kỷ đã quen với việc chế tác đồng hồ bằng tay. Một số nơi có công cụ để chế tác in-house, trong khi những bên khác vẫn thuê bên ngoài các bộ phận cụ thể và sau đó lắp ráp chúng lại với nhau. Thậm chí đến cuối thế kỷ 19, quá trình này vẫn phụ thuộc rất nhiều vào lao động chân tay.

Trong khi đó, công nghiệp hoá lại đang chiếm lấy lục địa Mỹ. Với những cải tiến về công nghệ trong thế kỷ 19, các nhà sản xuất cũng có thể phát triển hệ thống của riêng họ để sao chép các công cụ và máy móc. Sản xuất hàng loạt bắt đầu nở rộ ở Hoa Kỳ, chủ yếu ở Massachusetts và Connecticut.

Vật liệu rẻ hơn cho phép sản xuất hàng loạt những chiếc đồng hồ bỏ túi lần đầu tiên cho những người có điều kiện kinh tế bình thường. Việc sản xuất hàng loạt này cũng mang lại một sự thay đổi khi từ khoảng năm 1860 trở đi, cơ chế lên cót chính được thay thế bằng cơ chế không cần chìa khoá. Điều này có nghĩa là chiếc đồng hồ bỏ túi được kích hoạt bằng cách xoay núm crown.

 

Sản xuất hàng loạt tại Công ty Walham Watch
Sản xuất hàng loạt tại Công ty Walham Watch

Không mất nhiều thời gian để các nhà sản xuất đồng hồ Thụy Sĩ chú ý đến cách mà người Mỹ đang sản xuất hàng loạt đồng hồ bỏ túi. Trước khi thế kỷ 20, một số máy móc đã tìm đường đến các nhà sản xuất Thụy Sĩ, mặc dù người Mỹ vẫn là người đi tiên phong. Thuỵ Sĩ đã phát triển bộ phận sản xuất hiệu quả hơn nhằm duy trì tính cạnh tranh trong một ngành công nghiệp luôn thay đổi.